Những nguyên tắc thành công kinh điển dành cho các doanh nghiệp mới

Thành công

Thành công

Mọi doanh nghiệp đều có sự khác biệt riêng nhưng tất cả đều có chung những nguyên tắc thành công.

Điều hành một doanh nghiệp mới khiến bạn trông giống như một chi tiết trên bức phù điêu Ai Cập: thân theo một hướng còn đầu thì phải quay ngược trở lại để xem những sai lầm cũ nào đang ảnh hưởng tới bạn.

Nếu bạn muốn tốn ít thời gian hơn để nhìn lại những sai lầm mình đã mắc phải thì hãy áp dụng các nguyên tắc thành công kinh điển sau:

1. Tiền có thể là nguồn gốc của mọi thất bại.

Một công ty liên doanh nhiều vốn có thể cần những khoản tiền đáng kể. Nhưng hầu hết doanh nghiệp thì cần ít vốn để bắt đầu. Có một mối quan hệ nghịch đảo giữa mức độ cấp vốn và thành công lâu dài của các công ty mới.

Thành công ngắn hạn sẽ dễ dàng khi bạn có tiền để đốt. Nếu không có hàng tấn tiền mặt, bạn sẽ hoạt động thông qua và được hưởng lợi từ một vấn đề thay vì chỉ ném tiền vào đó

2. Hành động luôn đánh bại suy nghĩ.

Một kế hoạch chi tiết thì rất tuyệt vời nhưng khi có vấn đề nảy sinh, hầu hết các doanh nhân sẽ không chờ đến lần thứ ba rồi mới thích ứng với hiện thực. (Tôi đã mở một công ty với mục đích là cung cấp dịch vụ thiết kế sách cho các nhà xuất bản nhưng rốt cuộc, tôi lại viết sách.).

Dành nhiều thời gian hơn để lập kế hoạch và nhiều thời gian hơn để thực hiện. Nếu bạn không chắc chắn lắm, hãy làm gì đó và sau đó hãy có những phản ứng thích hợp. Thật dễ để cân nhắc, cân đo và đánh giá bản thân khi tách rời khỏi công việc kinh doanh.

3. Chỉ chi tiền cho những thứ chạm được đến khách hàng.

Rời một vị trí trong một công ty lớn để thành lập công ty riêng với giả định rằng bạn cũng phải trang bị những tiện nghi tương tự như họ? Thật tiếc là không phải vậy. Trước khi chi tiền, bạn hãy luôn tự hỏi bản thân “Thứ này có làm khách hàng thích không?” Nếu không thì đừng mua nó. Nếu bạn là một luật sư, văn phòng của bạn sẽ củng cố thêm tính chuyên nghiệp của bạn; nếu bạn đang điều hành một cửa hàng, thậm chí chẳng khách hàng nào biết đến sự tồn tại của văn phòng công ty bạn.

Dành số tiền bạn có vào những việc tạo ra khác biệt thực sự cho khách hàng của bạn. Thành công không do những thứ như tiện nghi hay văn phòng đẹp quyết định. Thành công hay không do lợi nhuận quyết định

4. Chỉ săn đuổi những thứ bạn có thể giết chết.

Hầu hết các công ty mới đều mơ sẽ tìm được những khách hàng dễ chịu, nhưng đó là những người rất khó tìm. Hãy tập trung tới đối tượng khách hàng tiềm năng mà bạn có cơ hội thành công với họ nhất.

Sau đó, bạn có thể nâng cấp cơ sở dữ liệu khách hàng của mình (đây là điều bạn phải học trong suốt quá trình kinh doanh) để thành công trong một cuộc săn lớn hơn

5. Đừng thỏa hiệp về địa điểm.

Ví dụ kinh điển: các nhà hàng. Thiếu tiền mặt, chủ các tiệm ăn mới sẽ chọn những địa điểm rẻ tiền (đồng nghĩa với tồi tệ) với hi vọng là thức ăn ngon và dịch vụ hoàn hảo sẽ biến nhà hàng trở thành điểm đến ưa thích của mọi người. Nhưng rốt cuộc nhà hàng đó chỉ là điểm đến của các chủ nợ mà thôi.

Nếu thực sự nếu bạn không vấp phải sự cạnh tranh nào (dù trong thực tế là không bao giờ có chuyện này), nếu có một thị trường thực sự, có thể khách hàng sẽ tới với bạn. Trong trường hợp ngược lại, họ sẽ không.

6. Kiếm sống không bao giờ là một quyền.

Bạn làm việc vất vả không có nghĩa là mọi người sẽ phải mua những thứ bạn bán ra. “Công bằng” chỉ áp dụng với cách bạn giao dịch với khách hàng, nhà cung cấp, người mua buôn… Sự công bằng không áp dụng với trường hợp liệu bạn xứng đáng thành công hay thất bại. Nếu bạn thấy mình suy nghĩ “Điều đó thật không công bằng. Lẽ ra tôi đã có thể có một cuộc sống tươm tất hơn” thì hãy dừng ngay. Bạn có quyền tạo ra lợi nhuận.

Không ai có trách nhiệm bảo đảm chắc chắn bạn có thể kiếm sống tốt ngoài bạn.

7. Đừng làm những việc không tạo ra thu nhập.

Mọi việc bạn làm phải tạo ra được thu nhập. Đừng tạo ra những bảng tính toán của riêng mình. Đừng in ra những bản báo cáo mà chỉ bạn xem. Đừng giết thời gian với các ván golf với hi vọng việc tạo ra mạng lưới sẽ đem khách hàng đến. Hãy giảm thiểu các nhiệm vụ quản lý và tập trung nỗ lực để tạo ra thu nhập.

Chắc chắn, bạn có thể làm những gì mình thích và tiền sẽ đến theo nhưng với điều kiện là bạn thích tạo ra thu nhập. Với một việc không ra tiền thì tốt nhất hãy cho qua, ít nhất là trong lúc này.

Kỹ năng mềm là bí quyết giúp sinh viên hòa nhập công việc

Ngày 22/9/2012, Hội Tin học TP.HCM (HCA) cùng Trung tâm Hướng nghiệp Dạy nghề và Giới thiệu việc làm Thanh Niên (YES Center) và Trung tâm Tin học ĐH Khoa học & Tự nhiên TP.HCM tổ chức chương trình kết nối sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng. Chương trình diễn ra tại Trung tâm Hướng nghiệp Dạy nghề và Giới thiệu việc làm Thanh Niên (Q. Gò Vấp, TP.HCM) với sự tham gia của nhiều sinh viên đang học ngành CNTT.

Ngày 22/9/2012, Hội Tin học TP.HCM (HCA) cùng Trung tâm Hướng nghiệp Dạy nghề và Giới thiệu việc làm Thanh Niên (YES Center) và Trung tâm Tin học ĐH Khoa học & Tự nhiên TP.HCM tổ chức chương trình kết nối sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng. Chương trình diễn ra tại Trung tâm Hướng nghiệp Dạy nghề và Giới thiệu việc làm Thanh Niên (Q. Gò Vấp, TP.HCM) với sự tham gia của nhiều sinh viên đang học ngành CNTT.

 

Bà Lại Thị Hạnh, ĐH Khoa học & Tự nhiên trình bày về kỹ năng mềm

Theo số liệu khảo sát thực tế của HCA tại các doanh nghiệp, kiến thức của sinh viên áp dụng vào thực tế khi làm việc chỉ chiếm khoảng 30%. Hầu hết doanh nghiệp phải đào tạo thêm về kỹ năng làm việc để giúp cho sinh viên hòa nhập công việc. Các doanh nghiệp trong ngành CNTT cho rằng kỹ năng mềm là điều cần thiết giúp cho sinh viên tự tin hơn trong con đường tìm việc làm, và theo HCA, 70% còn lại giúp bạn trẻ thành công trong công việc và cuộc sống là chính kỹ năng mềm.

Bà Lại Thị Hạnh, đại diện Trung tâm Tin học – ĐH Khoa học & Tự nhiên TP.HCM cho rằng: Có 3 kỹ năng mềm quan trọng đối với sinh viên khi tìm việc làm, đó là giao tiếp – ứng xử, làm việc nhóm, quản lý thời gian. Để tìm được việc làm tốt, bên cạnh kiến thức chuyên môn, sinh viên cần tập trung học tập và rèn luyện những kỹ năng này.

Chương trình kết nối doanh nghiệp với sinh viên các trường đại học – cao đẳng là hoạt động thường xuyên của HCA. Hoạt động này bắt đầu từ năm 2008 và đã tổ chức được ở một số trường như ĐH Hoa Sen; Hùng Vương; Cao đẳng Nguyễn Tất Thành… Dự kiến trong năm 2012, chương trình sẽ tiến hành ở 5 trường ĐH và Cao đẳng trong TP.HCM.

Nguồn: pcworld.com.vn

 

Tôn trọng cảm xúc của người khác

Tôn trọng cảm xúc của người khác

Trong cuộc sống chúng ta nhiều khi nói chuyện với người khác có nhiều câu nói khiến cho ai đó cảm thấy giận giữ hoặc bị xúc phạm! Nhiều lúc bạn thấy người kia phản ứng gay gắt thế là bạn càng cố gắng làm cho người ta càng tức giận hơn nữa! Bạn có nghĩ hành vi đó đang giết chết một mối quan hệ và giết chết cả hình ảnh của bạn trong mắt người khác!

Đọc tiếpTôn trọng cảm xúc của người khác

12 dấu hiệu của sự an bình nội tâm

12 dấu hiệu của sự an bình nội tâm - The Twelve Signs of Inner Peace

12 dấu hiệu của sự an bình nội tâm - The Twelve Signs of Inner Peace

1. Thường suy nghĩ và hành động tự nhiên thay vì từ nỗi sợ dựa trên trải nghiệm quá khứ.
2. Có khả năng hiển nhiên về việc tận hưởng từng giây phút.
3. Không có hứng thú trong việc phê phán cái tôi.
4. Không có khao khát phán đoán chỉ trích người khác.
5. Không có hứng thú với sự xung đột, mâu thuẫn.
6. Không có hứng thú trong việc phân tích lý giải hành động của người khác.
7. Không lo sợ (một dấu hiệu rất quan trọng).
8. Thường xuyên cảm nhận lòng biết ơn sâu sắc.
9. Có những cảm giác hài lòng về sự gắn kết với người khác và với thiên nhiên.
10. Thường xuyên có những nụ cười theo cách của trái tim.
11. Tăng khả năng xúc cảm yêu thương rộng mở cho những người khác và có khao khát muốn mở rộng yêu thương.
12. Gia tăng xu thế để sự việc xảy ra hơn là khiến sự việc diễn ra.
Huỳnh Huệ dịch

The Twelve Signs of Inner Peace (by unknown)

1. Tendency to think and act spontaneously rather from fear based on past experiences
2) An unmistakable ability to enjoy each moment
3) Loss of interest in judging self.
4) Loss of interest in judging other people
5) Loss of interest in conflict
6) Loss of interest in interpreting actions of others
7) Loss of ability to worry (this s a very serious symptom)
8) Frequent overwhelming episodes of appreciation.
9) Contented feelings of connectedness with others and nature.
10) Frequent attacks of smiling through the eyes of the heart.
11) Increasing susceptibility to love extended by others as well as the uncontrollable urge to extend it.
12) Increasing tendency to let things happen rather than to make them happen.

(Sưu tầm từ DCN – dotchuoinon.com)

Để có kỹ năng thuyết trình tốt

Thuyết trình trước đám đông

Để có kỹ năng thuyết trình tốt

Thuyết trình bằng giáo án điện tử là một trong những cách “trực quan sinh động” làm tăng hiệu quả học tập.

Thuyết trình trước đám đông

Môi trường làm việc nghiêm túc, năng động đầy đủ phương tiện ở bậc đại học đã tạo cơ hội cho sinh viên chúng tôi phát huy kỹ năng thuyết trình ở mức tốt nhất. Nếu các bạn học sinh phổ thông cũng áp dụng những kinh nghiệm dưới đây, thì chất lượng học tập sẽ được nâng lên đáng kể.
Qua rồi cái thời học sinh chỉ biết thụ động đọc – chép. Phương tiện giảng dạy hiện đại luôn có sẵn, nội dung bài học luôn đòi hỏi các bạn phải tích cực tìm kiếm tài liệu để nghiên cứu thêm, hoặc ứng dụng thực tiễn. Do vậy, thuyết trình bằng giáo án điện tử là một trong những cách “trực quan sinh động” nhằm làm tăng hiệu quả học tập.

Sau đây là một số kỹ năng thuyết trình bằng giáo án điện tử mà các bạn học sinh thường ít chú ý và hay mắc sai sót. Để đạt được hiệu quả tuyệt đối, các bạn nên:

Đoàn kết và có trách nhiệm

Các bạn học sinh phổ thông thường có thói quen làm việc lẻ tẻ, dù có chia nhóm thì đa phần nhóm trưởng đảm trách rất nhiều công việc, thậm chí còn “ôm sô toàn bộ”. Vì vậy, chỉ có nhóm trưởng đạt điểm cao, các thành viên khác chỉ việc “hưởng thụ”, không đóng góp chút công sức nào.
Lên đại học, bạn không thể làm việc kiểu đó. Một nhóm thuyết trình ở bậc đại học có thể tận 30 người nhưng họ vẫn làm việc hoàn toàn nghiêm túc, từ nhóm trưởng đến các thành viên, ai cũng có trách nhiệm như nhau. Cả nhóm luôn phải thường xuyên hội ý, bàn giao công việc cho từng người và mọi thứ đều trao đổi qua email. Mọi người luôn phải nội tài liệu đúng thời hạn. Không ai bảo ai, nhưng họ đều có ý thức tốt, có tinh thần đồng đội, hết mình vì giáo án điện tử của mình. Khi tác phẩm được hoàn thành, mọi người cùng hội ý, bàn lại để chỉnh sửa.

Phân công “lao động”

Như đã nói, từng thành viên trong nhóm đều có việc phải làm. Bạn có thể chia ra và phân công cho mỗi người một trong những việc sau: tìm tư liệu ở một phần nào đó, tìm hình ảnh minh họa, tổng hợp và phân tích tư liệu, thiết kế nội dung trong Power Point, chỉnh sửa và trang trí, nghiên cứu kĩ để đứng trước lớp thuyết trình, ứng phó với những câu hỏi hóc búa từ các nhóm khác.

Sự bình đẳng

Khi thuyết trình trước lớp, nếu làm việc nhóm, các bạn nên để từng người trong nhóm thay phiên thuyết trình, như thế sẽ tạo hiệu quả cao, tránh gây nhàm chán và bạn nào trong nhóm cũng hiểu bài, cũng phải tìm tòi để truyền tải nội dung bài học đến với các bạn nhóm khác. Hơn nữa, tránh thể hiện cái tôi cá nhân và luôn phải làm việc theo nhóm, không nên hành động lẻ tẻ, dễ dẫn đến những sai sót (ví dụ, trong lớp tôi có một bạn tự đứng trước lớp chê chính bài thuyết trình của nhóm mình, điều đó thể hiện sự mất đoàn kết nội bộ).

Tích cực và tự tin

Các bạn sinh viên ở bậc đại học thường suy nghĩ thoải mái, dễ chịu hơn học sinh phổ thông nên họ tự tin và không sợ mất lòng người khác. Có những buổi thuyết trình xảy ra rất căng thẳng vì các nhóm luôn đặt vấn đề hỏi ngược lại nhau nhằm gây khó dễ cho nhau, hệt như một cuộc “đại chiến” thực thụ, nhưng nhờ sự khó khăn đó mà mọi người hiểu bài sâu hơn, nhận ra nhiều khuyết điểm từ đề tài của nhóm mình hơn, và rút kinh nghiệm cho lần sau. Nhờ vậy, bài thuyết trình sau luôn chất lượng hơn bài thuyết trình trước và mọi người luôn tìm hiểu chuyên sâu trước khi thuyết trình vì sợ bị hỏi khó. Dù trong lớp, mọi người “đàn áp” nhau như thế, nhưng khi học xong vẫn vui vẻ thoải mái như thường. Các bạn học sinh nên chú ý kĩ điều này

Rút kinh nghiệm sau mỗi bài

Các sinh viên chúng tôi, tự học là chính nên luôn có trách nhiệm với những “đứa con tinh thần” của mình. Sau những buổi thuyết trình cực kì căng thẳng, chúng tôi hội ý lại và cùng phân tích những điểm yếu từ bài thuyết trình cũng như một vài thiếu sót của từng cá nhân, để ở buổi thuyết trình sau làm việc tốt hơn. Các bạn học sinh thường viện lí do “không có thời gian” nên hiếm khi có hoạt động này. Hơn nữa, tinh thần tự giác của các bạn chưa cao. Các bạn còn thói quen “đùn đẩy trách nhiệm” và coi trọng điểm số, nếu có điểm thì làm tốt, không thì chẳng làm. Tinh thần đồng đội cũng chưa cao, nhóm không ổn định (nên việc quản lý thành viên và phân công nhiệm vụ cũng phức tạp).
o0o
Lên đại học, các bạn dường như “sống chung với những buổi “thuyết trình” vì sinh viên luôn phải tự nghiên cứu và thuyết trình liên tục. Tập những kỹ năng thuyết trình ngay bây giờ cũng là cách để các bạn chuẩn bị cho tương lai, khi bước chân vào môi trường đại học.

(Sưu tầm)

Chọn cách mình sống

Chọn cách sống

CHÚNG TA CHỌN CÁCH SỐNG CỦA MÌNH

Chọn cách sống
Tất cả chúng ta đều sinh ra, sống, chịu đựng và từ giã cuộc đời
Điều phân biệt mỗi chúng ta là ước mơ
Dẫu những ước mơ của ta thuộc thế tục hay tinh thần và những gì ta làm để thực hiện ước mơ
Chúng ta chẳng chọn đời này để sinh ra
Chúng ta chẳng chọn cha và mẹ
Chúng ta chẳng chọn thời đại lịch sử, bản quán quê hương
hay hoàn cảnh xuất thân

Hầu hết chúng ta, chẳng chọn sự ra đi, cũng chẳng chọn giờ và điều kiện tử biệt. Nhưng trong phạm vi của những gì không có chọn lựa, chúng ta CHỌN CÁCH MÌNH SỐNG

All men and women are born, live, suffer and die;
What distinguishes us one from another is our dreams.
Whether they be dreams about wordly or unworldly things,
and what we do to make them come about…
We do not choose to be born.
We do not choose our parents.
We do not choose our historical epoch, the country of our birth,
or the immediate circumstances of our upbringing.
We do not, most of us, choose to die; nor do we choose the time and conditions of our death.
But within this realm of choicelessness , We do choose how to live.
~ Joseph Epstein ~

SỐNG THẾ NÀO LÀ GIÁ TRỊ?

Bạn có đồng ý rằng sống một cuộc sống giá trị bao gồm việc thực hành các nguyên tắc đạo đức, điều này có nghĩa là bạn không chỉ làm tăng lên tối đa các lợi ích tinh thần và vật chất cho chính mình mà còn cho những người xung quanh?
Các nguyên tắc đạo đức xoay quanh một nhân cách đạo đức, và một nhân cách đạo đức rất cần thiết để làm cho thân và tâm thoát khỏi đau khổ và lo âu, sống điều độ, quan tâm đến bạn hữu và gia đình hơn các của cải vật chất, và sau cùng đồng thời quan trọng hơn cả là tư duy tích cực và hợp lý. Những ý kiến trên đây là căn bản cho một cuộc sống có ích.
Theo Louise Rousseau, một khía cạnh khác của cuộc sống giá trị là sống với bàn tay rộng mở, đây chính là một quá trình suốt đời. Đó cũng chính là cuộc hành trình kiếm tìm hạnh phúc. Về cơ bản, những bước chính bạn phải tuân theo là nuôi dưỡng lòng biết ơn, sự hài lòng và sự hào phóng.

Về lòng biết ơn
“Quá nhiều người bỏ phí lớp lót bạc vì họ mong đợi vàng” ( Maurice Setter)
Bạn không đủ trang sức cho ước mơ của bạn? Bạn không có tiền cho những thứ thặng dư, xa hoa? Tập trung vào những cái bạn thiếu sẽ khiến bạn cảm thấy mình nghèo khổ. Nhưng nếu bạn chọn cách thay thế hãy biết ơn cái bạn đang có, bạn sẽ sớm thấy mình giàu hơn.
Nếu bạn thiếu tiền, có thể cần có thêm ý chí để nhìn theo hướng lạc quan. Nhưng điều này thực giá trị. Lòng biết ơn có thể làm thay đổi quan điểm của bạn và khiến bạn nhìn thấu sự phong phú của cuộc sống. Nó có thể khiến một món nữ trang loại thường thành một báu vật, một bữa ăn bình thường thành một bữa tiệc, một sự thiếu hụt thành một lợi ích.
Hãy thừa nhận rằng nhiều thứ tốt đẹp nhất không phải do mua bằng tiền:
Mùa xuân, Tình bạn, Tiếng cười trẻ thơ. Những thứ này chẳng tốn đồng nào. Thực vậy, bạn không thể mua được chúng.- nhưng chúng làm giàu cuộc sống của bạn một cách vô giá. Hơn thế, còn có tự do trong việc tận hưởng những thứ đó mà không chiếm hữu. Bạn có thể thích thú dạo chơi trên bãi biển mà không cần phải sở hữu một bãi tắm riêng, hoặc ngắm xem các tác phẩm nghệ thuật ở nhà bảo tàng mà không phải lo tiền bảo hiểm.
Sự Hài Lòng

Ngạn ngữ Nhật có câu : ”Kẻ nào không biết hài lòng thì suốt đời nghèo”
Hãy phân biệt giữa những cái thiết yều và những cái không cần thiết:
Nếu bạn nhầm lẫn giữa cái bạn muốn với cái bạn cần, có lẽ bạn đã chạy theo văn hóa tiêu dùng. Các nhà quảng cáo muốn bạn tin rằng cuộc sống chẳng giá trị nếu bạn không mua những gì họ đang bán. Nhưng họ đang dối lừa bạn đấy. Cuộc sống giá trị không phải ở chỗ sỡ hữu nhiều của cải, mà ở chỗ biết bằng lòng với những gì mình có.
Nhận thức được mình không cần một chiếc TV LCD mới, hay một chiếc xe đời mới sang trọng nhất giúp bạn tự do thoát khỏi ngục tù của chế độ tiêu dùng. Bạn có một sự chọn lựa, bạn có thể chọn mua cái bạn muốn, nhưng bạn biết hạnh phúc của bạn không phụ thuộc vào điều đó.
Đừng để của cải định danh bạn

Giá trị của bạn không tương ứng theo số dư tài khoản ngân hàng của bạn. Nhà cửa, ô tô và quần áo là những thứ phản ánh dở nhất bạn là ai. Con người bạn còn nhiều thứ đáng giá hơn các vật sở hữu của bạn. Bạn được ban cho một tâm hồn. Bạn sẽ thấy ý nghĩa thực sự của cuộc sống giá trị bắng cách nuôi dưỡng tâm hồn hơn là gửi vào ngân hàng số tiền tỉ. Bạn sẽ chẳng bao giờ hài lòng chừng nào bạn hạnh phúc với việc bạn là ai.

Hãy cho đi sự hào phóng của bạn
Winston Churchill nói : “Bạn kiếm sống bằng những gì bạn lấy, nhưng bạn tạo dựng cuộc đời bằng những gì bạn cho đi”
Hãy cho đi ở nơi mà trái tim của bạn có mặt.

Điều gì khiến bạn xúc động? Cảnh khốn cùng của cô nhi Rwanda, ở châu Phi? Phụ nữ ở Afghanistan? Nạn nhân của các trận động đất? Hãy cho vì những gì lay động từ tâm của bạn. Lòng thương người- tình nhân ái sẽ khiến bạn luôn muốn cho đi.
Cho những ai gần gũi mình:
Một mặt giúp những người khốn khó ở các nơi khác, mặt khác hãy luôn tìm cơ hội giúp những người ở gần mình. Bạn có biết một bà lão neo đơn thiếu gạo? Một người hàng xóm thất nghiệp túng cùng? Mang cho bà cụ ít gạo cơm, trả cho cho anh hàng xóm hóa đơn điện? Bạn sẽ thấy món quà của bạn làm sáng lên niềm vui của họ, bạn sẽ thấy rằng chắc chắn sự hào phóng cho đi có thể biến thế giới này thành một nơi tốt đẹp hơn
Đừng đợi đến khi có nhiều, thật nhiều mới là người cho. Hãy cho theo khả năng của bạn dựa vào túi của bạn. Còn điều này nữa về sự cho xin bạn nhớ cho:
Có ba thứ bạn có thể cho đi thật hào phóng và không giới hạn, với ai, bất cứ lúc nào, và luôn cần thiết, với tác dụng không ngờ mà chẳng bao giờ khiến bạn hao hụt. Đó là nụ cười, cái ôm, và ái ngữ. Hãy cho đi từ lúc bắt đầu một ngày mới đến khi bạn kết thúc một ngày và đi vào giấc ngủ an bình.
Hãy cho thường xuyên. Càng cho nhiều lần, càng dễ cho đi. Như thế có nghĩa là bạn đang sống với bàn tay rộng mở.
Và bàn tay rộng mở luôn nhận lại được nhiều ơn phúc.

(Sưu tầm)

Nhạy cảm về người khác – Phần 2

Trong bài trước chúng ta đã nói là muốn hiểu được cảm xúc của người khác, ta phải biết lắng nghe và quan sát body language trong khi đối thoại. Nhưng, đây là vấn đề ta thường gặp:

Hai người nói chuyện với nhau, nhưng không tin nhau lời nói của nhau và cả hai cố “đọc” body language của nhau (vì thường là khó che đậy body language hơn lời nói). Cuộc đối thoại chẳng đi đến đâu cả, vì chỉ là một trò đấu đá.
Ở một mức thông thường hơn, ta thường nghe than vãn: Người ta xử với nhau qua những mặt nạ, sống với nhau bằng giả dối, đóng kịch với nhau thường xuyên” và “triệu người quen chẳng mấy người thân”. Như Harmony viết: “Người Việt hay có lối nói hàm ý, có khi vui, buồn không bao giờ thể hiện ra hết, cho nên đoán được ý là cực khó, nhiều khi khen nhưng hóa ra lại là chê mát mẻ, hoặc khen nhưng chỉ là khen câu cửa miệng chứ chẳng nhằm mục đích gì khác, cũng như nhiều người Việt muốn che đi mặt chưa được của một vấn đề thì lại đánh bóng nó lên ở một mặt khác”.

• Ở mức sơ đẳng, chúng ta cần biết là mỗi văn hóa có một cách ứng xử của văn hóa đó, dù là ứng xử thế nào. Nếu một người (trong nền văn hóa) nói chuyện không thành thật đối với suy ngĩ hay cảm xúc của họ, thì ít ra người nghe (trong cùng nền văn hóa) cũng phải nhận ra điều thiếu thành tâm đó—”anh này đang nói chuyện theo kiểu nói cho có nói chứ chẳng thật tâm gì cả”–dù rằng có thể không biết người nói thật sự muốn gì. Và nếu người nghe có kinh nghiệm một chút về body language, thì mọi giả dối hay thiếu thành tâm thường hiện ra rất rõ.
• Tuy nhiên mức sơ đẳng thường chưa giải quyết được vấn đề. Cùng lắm là ta nhận ra được là người kia thiếu thành thật, trong khi đa số người vẫn cư xử với nhau bằng “mặt nạ”. Vấn đề là, trong một cuộc đối thoại, ta phải đưa được người kia khỏi cung cách mặt nạ đó, thì mới có thể có được một đối thoại có ‎ý nghĩa.
Như vậy ở mức cao hơn mức sơ đẳng, ta phải tạo một bầu không khí tin cẩn trong mỗi cuộc đối thoại, để cuộc đối thoại thành ‎ý nghĩa.
Và ta tạo bầu không khí tin cẩn này bằng cách tạo ra một năng lượng tích cực giữa hai người. Và năng lượng tích cực này được tạo ra bằng cái nhìn tích cực của ta về người đối diện. Cái nhìn tích cực đó có thể có nếu ta tự bảo ta: “Mình muốn cảm thông với chị này. Mình muốn hiểu được các cảm xúc vui buồn, lo lắng, quan tâm, bức xúc… của chị để có thể cảm thông và chia sẻ với chị”

(Chú ý: Câu nói chữ đỏ này hoàn toàn khác với câu nói kiểu công an: “Mình muốn biết cảm xúc và tư tưởng thật của chị này thế nào, phá bức màn giả tạo chị ấy có bên ngoài.” Rất tiếc là rất nhiều người chúng ta có thái độ tư duy tiêu cực này.)

Khi chúng ta đã bắt đầu một cuộc đối thoại bằng cách tạo một năng lượng tích cực như thế, đương nhiên là body language của ta sẽ nói lên điều đó cho người kia. Và thường thường là ta sẽ nhận ra ngay có 2 loại phản ứng khác nhau từ phía người đối diện.

1. Loại người thứ nhất vẫn giữ nguyên thái độ nói lăng nhăng thiếu thành thật, hoặc dò hỏi kiểu công an. Họ cứ như vậy có thể vì (i) bản tính của họ như vậy đã quá mạnh, hay (ii) vì lý‎ do nào đó họ rất nghi kỵ bạn.
(Trong văn hóa người Việt, tối thiểu là 90% các quý vị có máu làm chính trị nằm trong loại này. Nếu bạn nói câu gì đó mà qu‎ý vị đó nghĩ là bạn có lập trường chính trị khác họ thì dù bạn có cố tích cực cách nào họ cũng luôn luôn nói chuyện với bạn kiểu dò hỏi công an. Rất chán! )

2. Loại người thứ hai, hoặc bằng ý thức hoặc vô thức, cảm nhận được năng lượng tích cực của bạn, và sẽ bắt đầu nói chuyện thành thật với bạn. Trước hết là body language của người ấy sẽ bắt đầu thân thiện hơn, rồi lời nói bắt đầu ít vô nghĩa và bắt đầu có ý nghĩa hơn, một lúc sau lời nói và body language hòa hợp nhau để nói với bạn những lời thành thật.
Khi người đối thoại trở thành thành thật với bạn như thế bạn sẽ cảm nhận được rất rõ ràng—bạn cảm nhận được một ấm áp, thành thật, tín cẩn và gần gũi nơi người đó. (Cảm giác này rất rõ ràng và khác với cảm giác nói chuyện rất vui và “hợp gu” với một người khác phái mới gặp. Vui và hợp gu vẫn chỉ là chuyện vui chơi chốt lát. Chưa đến mức chiều sâu ta nói ở đây).

Tóm lại, để có thể nhạy cảm với cảm xúc thật của người đối diện, chúng ta phải có cách để mời người đó bỏ trò chơi mặt nạ và tin tưởng ta đến mức có thể thoải mái nói chuyện với ta bằng khuôn mặt thật của họ. Muốn làm thế thì ta phải (1) không chơi trò mặt nạ, và (2) luôn tạo một năng lượng tích cực—thành tâm tìm đồng cảm và chia sẻ với người đối diện—để năng lượng tích cực đó tạo nên sự tin cẩn, nền tảng của truyền thông thành thật, giữa hai người.
Tất cả những điều này có thể tóm lại cho dễ nhớ vào quy luật “tam chi” của chúng ta—khiêm tốn, thành thật, yêu người. Khi bắt đầu đối thoại, hãy cho mình 3 giây để tự nhắc mình: “Tôi sẽ khiêm tốn, thành thật và nhân ái với chị này và sẽ nói chuyện với chị với tinh thần như thế”.

Năng lượng tích cực đó đó sẽ tạo ra những đối thoại thành thật để chúng ta có thể hiểu nhau.

(Sưu tầm từ DCN – dotchuoinon.com)

Nhạy cảm về người khác

Một trong những kỹ năng quan trọng hàng đầu trong giao tiếp mà rất nhiều người trong chúng ta chẳng thuần thục tí nào là: nhạy cảm về cảm xúc của người khác. Chúng ta luôn luôn nói đến “khiêm tốn, thành thật, yêu người”. Và trong ứng xử hàng ngày, việc quan trọng đầu tiên cho ứng xử “yêu người” là nhạy cảm vể cảm xúc của người khác—khi người ta vui, buồn, bức xúc, khó chịu, áy náy, lo lắng… là mình nhận ra ngay. Và khi nói chuyện, thì luôn tìm cách nói, tìm lời nói, để làm cho người ta vui hơn, an lạc hơn, bớt lo lắng hơn, bớt bức xúc hơn, bớt bực mình hơn. Đó là yêu người. Đây là điều rất quan trọng trong ứng xử. Nếu bạn không nhạy cảm về người khác, bạn sẽ làm cho người ta bực mình về bạn cả đời, đi đâu cũng làm cho người ta có cảm tưởng bạn ăn nói lỗ mãng, kiêu căng, hay vô cảm (insensitive). Muốn xây dựng kỹ năng nhạy cảm về người khác thì bạn chỉ cần thực tập hai điều cùng lúc: (1) lắng nghe bằng tai và (2) đọc thân ngữ bằng mắt (body language). Có ba cách để tập lắng nghe và đọc body language hàng ngày: 1. Khi ngồi với một nhóm bạn bè nói chuyện với nhau, bạn có thể ngồi lặng yên để lắng nghe và quan sát body language của mọi người. 2. Xem movie, nhất là các phim tình cảm sâu sắc nổi tiếng của thế giới. Các đại tài tử rất giỏi body language. (Tài tử Việt diễn xuất còn rất yếu. Coi thì cũng chẳng học được mấy). 3. Khi nói chuyện với người nào, tai thì lắng nghe, mắt thì để ‎ý đến body language của người đó, để nhạy cảm với cảm xúc của họ (và lựa lời nói cách nói để làm họ vui vẻ hơn, an lạc hơn). Có người thì nói chuyện ai cũng yêu, thuyết phục ai cũng được; có người mở miệng ra là người kia khó chịu. Không chính xác là một người “giỏi ăn nói”, một người không. Mà là, một người “giỏi lắng nghe và đọc (body language)” và một người không. Khi ta nhạy cảm về người đối diện tự nhiên là ta sẽ biết cách nói cho họ vui hơn. • Nhạy cảm về người đối diện không có nghĩa là cứ dạ vâng hay hùa theo họ, như là chạy theo mass mentality (tâm lý đám đông), hay cố gắng chạy theo thị hiếu của mỗi người để làm họ vui, trong khi mình chẳng có lập trường gì cả. Không phải vậy. Bạn phải luôn luôn có lập trường của bạn. Nhưng bạn lắng nghe và đọc body language để bạn hiểu được người kia hơn, và do đó sự ăn nói của bạn có chiến lược hơn: Nên nói cách nào, khi nào dùng từ như thế nào, khi nào thì nên nói, khi nào thì nói cách nào, v.v… Nếu không rành chiến lược thì bạn cũng sẽ nói, nhưng chẳng có chiến lược gì cả, và do đó nhiều khi càng nói người ta càng ghét. Và ăn nói có chiến lược có nghĩa là ăn nói… có chiến lược. Không có nghĩa lúc nào cũng nói vuốt ve một kiểu. Khi cần dịu dàng thì dịu dàng, khi cần logic thì logic, khi cần tình cảm thì tình cảm, khi cần cứng rắn thì cứng rắn… Đã nói là chiến lược thì mọi sự đều phải được làm tùy theo nhu cầu đòi hỏi của… chiến lược. • Người luyện tập tư duy tích cực tập trung vào tâm mình—khiêm tốn, thành thật, nhân ái–và không sợ người khác chê bai khích bác mình. Nhưng đối với người khác, thì mình luôn cố gắng để không chê bai khích bác hay xúc phạm họ do cách ăn nói của mình, dù là cố tình hay vô tình. (Trừ khi mình cố tình khích bác họ vì mình yêu thương họ, muốn cho họ khá hơn. Nhưng khích bác là chiến lược khó dùng, chỉ hạng thầy nên dùng, các bạn còn yếu công lực thì không nên rớ đến, sẽ bị backfire, bắn ngược lại). Tóm lại, trong việc cư xử với người khác, chúng ta luôn phải nhạy cảm về người đối điện, để có thể biết cách xử dụng ngôn ngữ và cách nói một cách hiệu quả, làm cho người đối diện có thể vui vẻ hơn, và đồng ‎ý với ta nhiều hơn. Thành thật là nói sự thật, nhưng nói sự thật không có nghĩa là nói ngu. Nói sự thật vẫn có thể rất dịu dàng, dễ nghe, dễ nuốt… nếu ta nhạy cảm và biết chiến lược. Quan tâm về cảm xúc của người khác để ăn nói và đối xử với họ, đó chính là yêu người trong hành động.

Ai đó

Ai đó - Is that you?

Ai đó - Is that you?Ai đó đã làm một việc vàng son;
Ai đó đã chứng tỏ là bè bạn khi cần;
Ai đó đã hát vang bài ca đẹp;
Ai đó đã mỉm cười cả ngày;
Ai đó đã nghĩ rằng, “Thật ngọt ngào để vui sống”;
Ai đó đã nói rằng, “Tôi vui mừng ban tặng”;
Ai đó đã chiến đấu dũng cảm;
Ai đó đã sống để bảo vệ chính nghĩa;
Phải chăng “Ai đó” chính là bạn?

Somebody
Somebody did a golden deed;
Somebody proved a friend in need;
Somebody sang a beautiful song;
Somebody smiled the whole day long;
Somebody thought, “Tis sweet to live”;
Somebody said, “I’m glad to give”;
Somebody fought a valiant fight;
Somebody lived to shield the right;
Was the “somebody” you?

Loan Subaru dịch

Nửa cốc nước đầy

Cuộc sống ngổn ngang trăm mối khiến chúng ta đôi khi rơi vào trạng thái stress đầy lo âu và phiền muộn. Cần làm gì để có thể vượt qua những khó khăn này? Bài viết dưới đây sẽ cho bạn một chiếc chìa khoá, hoặc ít nhất qua cách nhìn về tư duy tích cực của tác giả, biết đâu bạn sẽ tìm được chiếc chìa khoá mở cánh cửa Bình an và Hạnh phúc cho riêng mình.

Không cần nhờ đến cô hoa hậu hoàn vũ 2005 Natalie Glebova nhắc tới trong đêm chung kết cuộc thi, châm ngôn này và các biến thể của nó vốn dĩ đã khá quen thuộc với chúng ta. Đây chính là một ví dụ sống động và thuyết phục về cách nhìn tích cực một vấn đề. Mặc dù, thực tế nước trong ly chỉ còn một nửa, nhưng người có tư duy tích cực sẽ nhìn vào phần còn của ly thay vì là phần vơi.

Một người thất tình có thể tự dằn vặt bản thân: “Cô ta lừa dối tôi, cô ta phản bội tôi, cô ta lợi dụng tôi”. Nếu là bạn của người đó, tôi sẽ khuyên anh ta hãy học cách quên điều này đi mỗi khi vô tình hoặc cố tình nhớ đến, vì bây giờ nó chỉ là chuyện của cô ta mà thôi. Chuyện của anh là hãy chữa trị nỗi đau mà anh đang phải chịu đựng. Hãy nhìn vào thực tế vấn đề và nếu không đơn giản hóa nó được thì ít ra đừng phức tạp nó thêm. Một người nếu đã rèn được cho mình lối tư duy tích cực sẽ có thể đối mặt với vấn đề này theo cách đại lọai như là: “Thật may mắn vì tôi cũng đã từng có được những tháng ngày hạnh phúc” hoặc “Chúng tôi đã có một thời thật đẹp”.

Tư duy tích cực mang đến sự bình an và thăng hoa cho tâm hồn. Đó là hướng của những người biết cách sống, biết cách yêu thương và biết cách tha thứ cho mình và cho người… Để rồi một ngày khi gặp lại, bạn tôi có thể cười với nàng bằng một nụ cười chúc phúc thay vì ngoảnh mặt đi với sự tức giận vì quá khứ.

Phân loại tư duy

Người ta thống kê rằng mỗi ngày trí óc ta sản sinh ra khoảng 30.000 đến 50.000 ý nghĩ. Trong con số khá lớn này, liệu có bao nhiêu ý nghĩ là có ích và bao nhiêu đã làm mất năng lượng một cách vô ích? Để phân loại chúng, người ta chia ý nghĩ thành bốn nhóm:

Tư duy Tích cực: Là những suy nghĩ có lợi không những cho mình mà cho cả người khác như: tự tin, lạc quan, yêu thương, bao dung, đoàn kết…
Tư duy Tiêu cực: Là những suy nghĩ làm tổn hại đến mình và đến người khác như: tự ti, ganh tỵ, mặc cảm, ích kỷ… “May mà tôi không vớ phải cô ta!” cũng thuộc nhóm câu “Nho trên cành còn xanh lắm!” có lợi cho mình, nhưng không có lợi cho người khác (vì cô ấy đang bị bạn nói xấu).

Tư duy Lãng phí: Là những suy nghĩ “rác”, nghĩ vơ vẩn về những gì đã qua hoặc chưa đến làm tiêu hao năng lượng và mất thời gian của hiện tại.

Một thí sinh trong phòng thi mà lại mơ tưởng đến chuyến đi nghỉ sắp tới hay tưởng tượng thầy giám thị tặng cho đáp án thay vì tập trung vào làm bài thì thật là đang tư duy lãng phí.

Tư duy Cần thiết: Là những suy nghĩ cần thiết về công việc đang phải làm, đang phải giải quyết. Như thầy cô giáo thì phải suy nghĩ về bài giảng, diễn viên suy nghĩ cách nhập vai hay người hùng thì phải nghĩ cách chứng minh điều đó…

Lối tư duy góp phần quyết định chất lượng cuộc sống của mỗi chúng ta.

Tất cả các ý nghĩ sinh ra dù cần thiết hay không, dù tiêu cực hay tích cực thì nó cũng làm ảnh hưởng đến cảm xúc, lời nói và hành động. Và vô hình trung nó cũng sẽ ảnh hưởng hoặc tốt hoặc xấu đến chúng ta tùy theo điểm xuất phát của nó thuộc loại tư duy nào. Mối liên hệ giữa chúng có thể được biểu diễn bằng lược đồ sau:

Một ví dụ: Chồng của Ly hôm nay về muộn. Hai cách phỏng đoán sau đây của Ly sẽ mang tới những kết quả trái ngược nhau.

Cách một: Chắc là lại đi uống rượu với bạn bè? Hay đi hẹn hò với cô thư ký? Hay bị tai nạn xe?…

Cơ thể: nét mặt thể hiện sự lo lắng, căng thẳng, lời nói cáu gắt, đứng ngồi không yên, gọi điện cho hàng xóm, bố mẹ, bạn bè và khi chưa có kết quả thì bất an và giận dữ.

Các mối quan hệ: hàng xóm, bố mẹ và bạn bè cũng bị bận tâm và suy nghĩ về vấn đề của gia đình Ly.

Bầu không khí: trong nhà trở nên căng thẳng, bức bối và nặng nề.

Cách hai: Có lẽ cơ quan có việc đột xuất! Hay gặp gỡ bạn bè để tạo mối quan hệ! Hay về thăm bố mẹ bên ấy!

Chúng ta không bàn về lý do thật sự tại sao chồng Ly về muộn, nhưng rõ ràng là với cách nghĩ tích cực này thì Ly đã không tự tạo một áp lực gì cho mình và cho xung quanh ít nhất là trong khoảng thời gian trước khi chồng về.

Đó là lý do vì sao chúng ta dễ dàng cảm nhận được sự tươi vui ấm cúng khi đến những gia đình hạnh phúc ngược lại sẽ thấy khó chịu và ngột ngạt với bầu không khí thường xuyên xung đột, thiếu vắng sự thương yêu.

Hoặc bạn có thể dễ dàng thấy sự ảnh hưởng tâm trí hoàn toàn khác nhau giữa bầu không khí tại một thánh đường, một thiền viện so với bệnh viện hay một nhà lao.

Nếu nhận thức đúng sự ảnh hưởng cũng như tầm quan trọng của tư duy đối với tự thân và môi trường xung quanh, phải chăng chúng ta cũng cần như các doanh nghiệp uy tín ngày nay, phải cho sản phẩm ý nghĩ qua giai đoạn kiểm tra chất lượng (KCS) trước khi nó thể hiện bằng lời nói và hành động. Cuộc sống sẽ rạng ngời biết bao khi các ý nghĩ của ta đều mang tên “tích cực”.

Stress và cách giảm thiểu stress bằng tư duy tích cực

Ngược lại với tư duy tích cực, cách suy nghĩ tiêu cực cũng mang lại những hậu quả không nhỏ.

“Tiêu cực” không chỉ gồm những suy nghĩ không có lợi cho mình và không có lợi cho người khác. Một cách nhìn nhận sai lệch quy luật cuộc sống hoặc không dám chấp nhận sự thật cũng có thể được xem là tiêu cực. Chứng STRESS (trầm cảm) chính là một hậu quả điển hình của những các ý nghĩ tiêu cực.

Stress của dây đàn là giai đoạn căng quá mức của nó trước khi bị đứt. Kết quả cuối cùng của sự giải thoát khỏi stress là hoặc là điều chỉnh lại độ căng hoặc là để cho nó đứt. Người không muốn thoát hoặc không biết cách thoát khỏi nó một cách đúng đắn nhất thì có thể gọi là người tiêu cực.

Áp lực thật nhiều và đa dạng, và hầu hết chúng ta thường cho rằng áp lực là do môi trường hoặc hoàn cảnh đem lại. Nhưng mức độ STRESS do một áp lực tạo ra sẽ là lớn hay nhỏ, trầm trọng hay nhẹ nhàng lại được quyết định phần nhiều bởi cái cách chúng ta “hứng đòn”. Không có tiếng vỗ của một bàn tay, STRESS lớn lên khi chúng ta không còn đủ năng lượng (sức mạnh nội tâm) để đáp trả cái gọi là “áp lực” trong cuộc chiến đấu mà chúng không hiểu đối thủ là ai.

Vì vậy mức độ Stress mà một người phải chịu đựng có thể được xác định bằng công thức sau:

STRESS=ÁP LỰC / SỨC MẠNH NỘI TÂM

Nhìn vào công thức trên, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra rằng mình có thể giảm STRESS cho bản thân nếu giảm được áp lực phải gánh chịu và tăng sức mạnh nội tâm.

Chúng ta có thể giảm bớt hoặc loại bỏ một số áp lực về quá khứ hay về tương lai chẳng hạn. Nhiều những chuyện không hay đã qua rồi nhưng chúng ta vẫn ôn đi ôn lại để rồi cảm thấy ray rức, hối tiếc hay thù hận đến mức không muốn hoặc không thể thoát ra được. Và với tương lai cũng vậy…

Các bạn tôi nói rằng những điều tôi vừa chia sẻ đều là lý thuyết. Đúng là như thế! Vậy thì hãy vận dụng nó để xây dựng cuộc sống đẹp và chất lượng hơn. Vấn đề còn lại là thời gian và sự chiêm nghiệm cuộc sống của từng người. Trong thời gian chờ đợi đến khi chúng ta ngộ ra và sống hết mình bằng những loại tư duy đều mang tên “tích cực”, tôi xin chia sẻ với các bạn một phương pháp giảm STRESS bằng “Nguyên tắc S.O.S ” sau đây:

Khi không thích một kênh truyền hình nào đó đang xem thì chúng ta sẽ làm gì? Sẽ chuyển sang kênh khác hoặc là tắt đi. Khi trên đường gặp một vụ kẹt xe?

Chúng ta sẽ dừng lại, quan sát xem chuyện gì đang xảy ra, nếu có thể qua được thì chúng ta sẽ tiếp tục đi về phía trước, nếu không thì quay lại hay tìm một con đường khác. Hãy xử lý tương tự như thế với STRESS. Luôn ghi nhớ rằng bạn luôn có ít nhất một chọn lựa khác. Hãy dừng lại, tạm thời tách mình ra khỏi mớ rối rắm đó, quan sát trên tầm rộng hơn, thoáng hơn, khách quan và lạc quan hơn. Cuối cùng là chọn lựa, hành động và sẵn sàng chịu trách nhiệm với sự chọn lựa đó.

Ngoài ra tôi cũng xin mách nhỏ với các bạn một phương pháp để tăng sức mạnh nội tâm để có thể “chiến đấu tốt” với áp lực bên ngoài đó là luyện tập yoga và thiền định. Những bài tập Yoga sẽ giúp tăng cường sức khỏe, cân bằng tâm lý, tự tin và yêu đời hơn. Và Thiền định là một bước cao hơn, khi bạn tập Yoga đến mức thuần thục thì Thiền định là một bước tiến cuối cùng mà các Yogi không thể bỏ qua. Thiền định sẽ giúp bạn tự chủ hơn, mở rộng cánh cửa yêu thương trong tâm hồn và tiến gần đến chân lý sống. Tuy nhiên tôi vẫn mong bài viết này không có ý nghĩa gì với các bạn cả vì điều đó có nghĩa là các bạn đang sống thực sự hạnh phúc và hoàn toàn tích cực theo công thức riêng của mình.

Bài học từ Đại bàng


Đại Bàng…

Đó là loài chim có tuổi thọ cao nhất trong chủng loại của mình. Chúng có thể sống tới 70 tuổi.

Nhưng để sống được tới tuổi này, chúng phải trải qua một quyết định khó khăn vào năm 40 tuổi

Khi đó, Những móng vuốt dài và linh hoạt không còn đủ sức tóm giữ con mồi làm thức ăn.

Chiếc mỏ dài và sắc nhọn trở nên cong yếu.

Đôi cánh nặng nề và già cỗi, do bộ lông dày, trở nên dính chặt vào ngực và khiến cho chúng khó bay lượn

Vì thế, đại bàng chỉ còn hai sự lựa chọn: chết hoặc trải qua một quá trình thay đổi đau đớn kéo dài 150 ngày.

Quá trình này đòi hỏi đại bàng bay lên đỉnh núi và ngồi trên tổ của mình

Tại đây đại bàng sẽ đập mỏ vào đá cho đến khi mỏ gãy rời

Sau khi mỏ gãy, đại bàng sẽ đợi cho mỏ mới mọc ra rồi sau đó bẻ gãy hết các móng vuốt của mình

Khi những móng vuốt mới mọc lại, đại bàng bắt đầu nhổ hết những chiếc lông cũ già cỗi

Và sau 5 tháng, đại bàng lại có thể tiếp tục những chuyến bay lượn tuyệt vời của sự hồi sinh và sống thêm 30 năm nữa.

Hãy học từ đại bàng…

Hãy trở nên thật dũng cảm và kiên cường để trải qua một giai đoạn thay đổi đầy khó khăn,

chịu đựng nhiều đau khổ và thử thách để được hồi sinh và tiếp tục bay cao, bay xa hơn nữa…

Chúc bạn thành công!

Theo DNT & Dale Carnegie Vietnam

Bài học từ hươu cao cổ

Khi sinh con, hươu mẹ không nằm mà lại đứng; và như vậy hươu con chào đời bằng một cú rơi hơn 3m xuống đất và nằm ngay đơ. Rồi hươu mẹ làm một việc kỳ lạ: đá hươu con cho đến khi nào chú ta chịu đứng dậy mới thôi. Khi hươu con mỏi chân và nằm, hươu mẹ lại thúc chú đứng lên. Đến lúc hươu con đã thực sự đứng được, hươu mẹ lại đẩy chú ngã xuống để chú phải nỗ lực tự mình đứng dậy lần nữa. Điều này nghe có vẻ lạ với chúng ta, nhưng lại thực sự cần thiết cho hươu con bởi vì hươu con cần phải tự đứng được để có thể tồn tại với bầy đàn, nếu không hươu con sẽ trơ trọi với cuộc đời và trở thành miếng mồi ngon cho thú dữ.

Chúng ta cũng thế, thật dễ nản chí khi mọi việc đều trở nên tồi tệ. Nhưng cho dù đang phải đối mặt với nhiều gian khổ thì ta vẫn phải giữ vững niềm tin. Hãy ghi nhớ rằng mỗi khi ta phải đối mặt với nghịch cảnh, trong ta luôn có một sức mạnh tiềm ẩn. Đừng bao giờ để thất bại quật ngã mà hãy để nó trở thành thầy dạy của chúng ta. Đây chính là bí quyết để thành công. Người ta không thua khi bị đánh bại mà chỉ thua khi đầu hàng.

 

Thomas Edison đã nói: “Tôi không bao giờ nản chí vì đối với tôi mỗi một nỗ lực không thành công là một bước tiến bộ”.